TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Sưng hạch bạch huyết-Dấu hiệu của nhiều bệnh lý

4/1/2016 5:01:48 AM - Lượt xem: 3871
Trong cơ thể người có khoảng 500 – 600 hạch bạch huyết, có cấu trúc chủ yếu gồm những tế bào Lympho và những tế bào lưới nội mô lát thành xoang hạch. Dấu hiệu sưng hạch bạch huyết gặp trong nhiều bệnh khác nhau, hay gặp nhất trong bệnh ung thư máu.

SƯNG HẠCH BẠCH HUYẾT - DẤU HIỆU CỦA NHIỀU BỆNH LÝ

Trong cơ thể người có khoảng 500 – 600 hạch bạch huyết, có cấu trúc chủ yếu gồm những tế bào Lympho và những tế bào lưới nội mô lát thành xoang hạch. Dấu hiệu sưng hạch bạch huyết gặp trong nhiều bệnh khác nhau, hay gặp nhất trong bệnh ung thư máu.

1. Sinh lý bệnh hạch bạch huyết

Mỗi nang Lympho trong hạch bạch huyết bao gồm một vùng trung tâm màu sáng hơn (gọi là trung tâm mầm) chứa các Lympho bào lớn (nguyên bào Lympho) và đại thực bào, những Lympho bào lớn này sinh sản nhanh (Lympho B hoạt hóa). Bao quanh trung tâm mầm là vùng gian – nang dày tế bào, sậm màu hơn, được cấu tạo bởi những Lympho bào nhỏ (Lympho T), các Lympho bào nhỏ sinh sản chậm và rời khỏi hạch sau khi chúng trưởng thành.
Chức năng của các hạch bạch huyết là phản ứng với các kháng nguyên ở các mô lân cận thuộc hạch đó. Các Lympho B sẽ phản ứng bằng cách sinh sản nhanh và chuyển đổi thành các tương bào để sản xuất các kháng thể, còn các Lympho T thì phản ứng bằng cách tham gia vào đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào. Những tế bào lưới nội mô phản ứng bằng cách sinh sản và chuyển thành đại thực bào, chúng “ăn” và tiêu hủy các mảnh tế bào và những hạt dị vật, đặc biệt là những vi sinh vật.
Hạch bạch huyết sưng to có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau , đáng lưu ý nhất là các nguyên nhân dưới đây:
- Lympho bào và các đại thực bào sản sinh nhanh trong những phản ứng miễn dịch chống lại kháng nguyên.
- Hạch bị xâm nhiễm bở những tế bào viêm trong quá trình nhiễm khuẩn.
- Lympho bào sinh sản ác tính trong ung thư máu (bệnh bạch cầu, u Lympho).
- Xâm nhiễm bởi những tế bào ung thư di căn từ nơi khác đến.
- Xâm nhiễm bởi những đại thực bào chứa nhiều các sản phẩm chuyển hóa trong bệnh rối loạn chuyển hóa lipid.

2. Khám hạch bạch huyết bằng phương pháp sờ ấn

Ở người bình thường, rất ít khi sờ thấy hạch bạch huyết. Khi khám, bác sĩ thường sờ ấn những hạch bạch huyết nông sau đây: Hạch chẩm, trước tai, sau tai, dưới hàm, hạch cổ, hạch thượng đòn, hạch nách, hạch trên lồi cầu xương cánh tay, hạch bẹn nông và hạch khoeo. Những hạch bạch huyết sâu thì không sờ ấn được, trừ trường hợp những hạch trong ổ bụng bị sưng rất to. Thường chỉ phát hiện được bệnh của các hạch bạch huyết sâu bằng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như Xquang, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, siêu âm.

3. Nguyên nhân sưng hạch bạch huyết

- Sưng hạch bạch huyết toàn thân (sưng đa hạch bạch huyết):
+ Những bệnh nhiễm khuẩn: Tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn, nhiễm virus cự bào, bệnh AIDS, bệnh do Brucella, lao, viêm gan virus,, giang mai giai đoạn 2, bệnh nấm Toxoplasma, bệnh mèo cào.
+ Bệnh ung thư máu: Bệnh bạch cầu Lympho mạn tính, u Lympho bào…
- Sưng hạch bạch huyết khu trú:
+ Hạch sau tai: Bệnh Rubeon.
+ Hạch cổ một bên sưng hạch khối: Ở người lớn phải nghĩ đến ung thư vòm họng hoặc u Lympho.
+ Hạch dưới góc hàm và hạch cổ sau: Bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn hoặc nhiễm virus cự bào hoặc bệnh nấm Toxoplasma.
+ Hạch thượng đòn: Có thể có khối ung thư trong lồng ngực hoặc trong ổ bụng. Nếu sưng hạch bạch huyết thượng đòn phải thì do tổn thương ở phổi hoặc thực quản, còn ở bên trái (còn gọi là hạch Virchow) thì thường là do tế bào ung thư di căn từ các khối u ở bụng (ung thư dạ dày, thận, buồng trứng, tinh hoàn).
+ Hạch nách: Nếu là phụ nữ, hạch rắn, không di động có thể là do ung thư vú. Nếu hạch sưng đau và nóng là do nhiễm khuẩn chi trên.
+ Sưng hạch trung thất hai bên không đối xứng: Bệnh Hodgkin, u Lympho.
+ Hạch rốn phổi: Viêm phổi nhiễm khuẩn hoặc nhiễm virus, lao, bệnh Sarcoid (thường không có triệu chứng).
+ Hạch bẹn: Nếu rắn và không di động: Ung thư bàng quang, tuyến tiền liệt, trực tràng, cơ quan sinh dục ngoài. Nếu sưng nóng và đau: Bệnh Lympho u hạt hoa liễu (bệnh Nicolas Favre), săng hạ cam, bệnh giang mai.

4. Giá trị triệu chứng sưng hạch bạch huyết

Sưng hạch bạch huyết ở người lớn có nhiều có ý nghĩa chẩn đoán hơn so với trẻ em. Ở trẻ em, ngay cả ở viêm đường hô hấp cũng hay có sưng hạch bạch huyết toàn thân thoáng qua. Nhưng ở người lớn, sưng hạch bạch huyết khu trú có thể gây ra bởi chấn thương, hoặc nhiễm khuẩn thông thường ở những mô lân cận hạch đó. 
- Nếu hạch sưng to, đối xứng, mềm, di động, không đau: U Lympho bào hoặc bệnh bạch cầu mãn tính, nhưng trong bệnh bạch cầu cấp thì hạch sưng lại đau vì mức độ sưng nhanh và vì hay bị bội nhiễm. 
- Nếu hạch rắn, không di động, dính với mô xung quanh và không đau: Thường do ung thư di căn.
- Nếu hạch sưng nóng, đau, lớp da phủ ngoài có thể đỏ lên, phù nề: Thấy trong những bệnh nhiễm khuẩn cấp, hạch sưng thường không đối xứng. Trong những bệnh nhiễm khuẩn mạn tính thì da thường không có dấu hiệu phù nề và hạch không đau.
Bác sĩ: Nguyễn Thùy Ngân (Phòng khám Thọ Xuân Đường)

 

(Bấm vào đây để nhận mã)