TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Sơ lược về bệnh bạch cầu cấp tính

1/13/2016 7:59:14 PM - Lượt xem: 4004
Bệnh bạch cầu cấp là nhóm bệnh máu ác tính (ung thư máu) do những nguyên bạch cầu sản sinh ác tính, kèm theo suy tủy xương, và thường tổn hại về chất lượng và số lượng của những bạch cầu trong máu. Người ta chia làm bệnh bạch cầu nguyên bào Lympho và bệnh bạch cầu nguyên tủy bào vì biện pháp điều trị 2 thể này khác nhau.

SƠ LƯỢC VỀ BỆNH BẠCH CẦU CẤP TÍNH

Bệnh bạch cầu cấp là nhóm bệnh máu ác tính (ung thư máu) do những nguyên bạch cầu sản sinh ác tính, kèm theo suy tủy xương, và thường tổn hại về chất lượng và số lượng của những bạch cầu trong máu. Người ta chia làm bệnh bạch cầu nguyên bào Lympho và bệnh bạch cầu nguyên tủy bào vì biện pháp điều trị 2 thể này khác nhau.

Tủy xương tăng số lượng tế bào và thâm nhiễm bởi những tế bào non (tế bào chưa biệt hóa, chưa trưởng thành hay nguyên bạch cầu). Bệnh có thể phát sau phơi nhiễm bức xạ, sau khi sử dụng các loại thuốc ức chế miễn dịch, dưới tác động của một số hóa chất (Benzol), hoặc sau một số bệnh máu khác (như bệnh thiếu máu mãn tính) hoặc là một kết quả bất thường về gene (chuyển vị 4/11). Một nguyên nhân nữa là có khả năng là bộ gen của virus xâm nhập vào tế bào.

1. Phân loại

- Bệnh bạch cầu nguyên bào Lympho (L1 hoặc L2): Là những thể thường gặp ở trẻ em.
- Bệnh bạch cầu “Burktt” (L3): Có thể kết hợp với u Lympho bào Burkitt, với khu trú sau phúc mạc hoặc màng não.
- Bệnh bạch cầu nguyên tủy bào (M1 hoặc M2): Là những thể thường gặp ở người lớn.
- Bệnh bạch cầu tiền tủy bào (M3): Có khả năng gây đông máu nội mạch rải rác.
- Bệnh bạch cầu nguyên tủy bào đơn nhân (M4): Tăng Lysozym trong máu và nước tiểu.
- Bệnh bạch cầu nguyên bào đơn nhân (M5): trong máu có những tế bào tủy chưa biệt hóa (chưa trưởng thành) và bạch cầu đơn nhân.
- Tăng sinh nguyên hồng cầu – bạch cầu (M6): Hay gặp ở những người mắc hội chứng Down (hội chứng 3 NST21). Trong máu xuất hiện những nguyên hồng cầu loạn dưỡng.
- Bệnh bạch cầu nguyên bào nhân khổng lồ (M7): Hay gặp ở những người mắc hội chứng Down (hội chứng 3 NST21). Xơ hóa tủy xương kết hợp.

2. Triệu chứng

Bệnh bạch cầu nguyên bào Lympho cấp hay gặp nhất ở trẻ từ 3 – 5 tuổi, và chiếm 1/3 các bệnh ung thư (ác tính) ở trẻ em. Bệnh bạch cầu nguyên tủy bào cấp tính gặp ở mọi lứa tuổi.

a. Giai đoạn khởi phát

Thông thường bệnh khởi phát đột ngột bằng triệu chứng sốt và ảnh hưởng đến tình trạng toàn thân. Nếu bệnh bạch cầu đi kèm với giảm bạch cầu hạt trung tính, thì bệnh có thể khởi đầu bằng viêm họng hoặc viêm loét miệng, hoặc kết hợp với giảm tiểu cầu thì bệnh bắt đầu bằng ban xuất huyết đi kèm với xuất huyết niêm mạc hoặc nội tạng. Trước khi khởi phát lâm sàng thường có một giai đoạn tiềm tàng, trong giai đoạn này đã có những bất thường về huyết học. Ở người cao tuổi, trước khi giai đoạn cấp tính thường có hội chứng loạn sản tủy xương.

b. Giai đoạn toàn phát

- Hội chứng nhiễm khuẩn: Nhiễm vi khuẩn hoặc virus, mắc đi mắc lại, nhiễm toàn thân liên quan với giảm bạch cầu hạt trung tính và viêm nhiễm khu trú (viêm miệng, viêm lợi, viêm họng). 
- Hội chứng xuất huyết: Chảy máu cam, chảy máu lợi, xuất huyết nội tạng, xuất huyết võng mạc, bầm máu và tụ máu dưới da.
- Hội chứng thiếu máu: Bệnh nhân xanh xao (da xanh, niêm mạc nhợt), mệt mỏi, suy nhược, có thể có khó thở.
- Sưng hạch bạch huyết, gan to, lách to: Rất hay gặp trong bệnh bạch cầu nguyên bào Lympho. Gặp trong một nửa số trường hợp bệnh bạch cầu nguyên tủy bào.
- Hội chứng xương: Đau xương, chụp xquang thấy những vùng hiếm mô xương, đặc biệt là ở hốc mắt, thường đi kèm triệu chứng lồi mắt, đôi khi cũng thấy trong bệnh bạch cầu nguyên tủy bào.
- Viêm màng não bệnh bạch cầu: Với những biểu hiện tăng áp lực nội sọ, nhức đầu, co giật, phù mí mắt, liệt dây thần kinh sọ não.

c. Những biểu hiện khác

- Hội chứng chèn ép trung thất.
- Đau bụng, rối loạn tiêu hóa.
- Tổn thương da.
- Các nguyên bạch cầu thâm nhiễm vào mọi cơ quan.

3. Xét nghiệm cận lâm sàng

a. Huyết đồ

- Hồng cầu: Thiếu máu đẳng sắc hồng cầu bình thường (không tái tạo) nặng, gặp trong phần lớn các trường hợp.
- Bạch cầu: Số lượng trong máu có thể bình thường, giảm trong 1/3 số trường hợp hoặc tăng, biến động từ 10.000 đến 100.000/µl. Trên phiến đồ nhuộm, người ta có thể nhầm với bạch cầu bất thường hoặc bạch cầu non (nguyên bào) với những tế bào Lympho. Sự xuất hiện của những thể Auer (thể hình que ưa xanh anilin) trong bào tương của những nguyên tủy bào hoặc nguyên bào đơn nhân là nét điển hình của bệnh bạch cầu hạt cấp tính.
- Tiểu cầu: Giảm về số lượng, thường chỉ còn dưới 100.000/µl.

b. Tủy đồ

Tủy xương phong phú tế bào với trên 30% là những nguyên bạch cầu, chỉ những chuyên gia có kinh nghiệm mới phân biệt được những thể khác nhau của những nguyên bào này (nguyên bào Lympho, nguyên tủy bào, tiền tủy bào, nguyên bào bạch cầu đơn nhân. Những tế bào bình thường (tế bào dòng bạch cầu ở giai đoạn biệt hóa hơn, nguyên hồng cầu, tế bào nhân khổng lồ) hầu như hoàn toàn không còn. Nên chọc dò tủy xương ở nhiều vị trí khác nhau, và làm sinh thiết tủy xương.

c. Khảo sát khả năng cầm máu (xét nghiệm đông máu cơ bản)

Kết quả không bình thường do giảm tiểu cầu hoặc đôi khi do đông máu nội mạch rải rác, thường gặp trong thể bạch cầu tiền tủy bào (M3) đi kèm với tai biến xuất huyết nặng.

d. Dịch não tủy

Đôi khi chứa các nguyên bào bạch cầu, tăng hàm lượng Protein (khi bệnh có khu trú ở màng não).

e. Kiểu nhân

Khảo sát tủy đồ thường được bổ sung bởi nghiên cứu tế bào ung thư (ác tính) với kiểu nhân của chúng. Kết quả này kết hợp với xác định kiểu hình, rất quan trọng đối với tiên lượng bệnh. Trong bệnh bạch cầu nguyên bào Lympho cấp tính, người ta có thể thấy chuyển vị 4/11. Với những bất thường của nhiễm sắc thể 5 và 7 trong trường hợp bệnh bạch cầu tủy mạn ở người già, có thể nghĩ đến diễn biến của một hội chứng loạn sản tủy xương vì vậy tiên lượng dè dặt.

f. Những dấu ấn miễn dịch

Những kháng thể đơn dòng đặc hiệu đối với những kháng nguyên của tế bào B và T, nguyên tủy bào đều có ích trong việc xác định các type khác nhau của bệnh bạch cầu.

g. Những xét nghiệm khác

Lysozym trong máu và trong nước tiểu tăng trong những thể tiền tủy bào. Acid Uric máu và Phospho có thể tăng trong những thể nguyên bào Lympho.

h. Xét nghiệm bổ sung

- Chụp xquang toàn bộ xương khớp: Thấy hình ảnh tiêu xương, mất calci đầu xương… Những bất thường về xương rất hay gặp ở trẻ em và một nửa số trường hợp bệnh nhân người lớn.
- Khám đáy mắt: Có thể thấy xuất huyết võng mạc, phù gai thị.

4. Chẩn đoán

Để chẩn đoán bệnh cần căn cứ vào:
- Các triệu chứng: Mệt mỏi, suy nhược, xanh xao, đau xương, sốt.
- Viêm họng hoặc loét niêm mạc, ban xuất huyết, sưng hạch bạch huyết, lách to.
- Thiếu máu, giảm tiểu cầu, có các bạch cầu bất thường trong máu ngoại vi.
- Chẩn đoán xác định bằng tủy đồ.

5. Tiên lượng

Với những thể nguyên bào Lympho, bệnh có thể thuyên giảm lâu dài trong 70% trường hợp được điều trị, và ở trẻ em trên 2 tuổi thì có 50% trường hợp khỏi bệnh, trong khi ở người lớn những thời kỳ bệnh thuyên giảm thường ngắn. Với những thể nguyên tủy bào ở người lớn, thì thời kỳ thuyên giảm dài có thể đạt 30% số trường hợp được điều trị.
Với những bệnh nhân trên 60 tuổi, có tiên lượng dè dặt hơn.
Bác sĩ: Nguyễn Thùy Ngân (Thọ Xuân Đường)

le ngoc thanh2/15/2017 2:24:57 AM

lengocha46@gmail.com

Chau nha E sinh nam 2012 bi ung thu mau the m3

(Bấm vào đây để nhận mã)