TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Làm thế nào để nhận biết U Lympho Hodgkin?

4/14/2016 5:12:53 AM - Lượt xem: 3821
Bệnh Hodgkin là một trong những bệnh ung thư máu đặc trưng bởi sự tăng sinh tế bào ác tính xảy ra trong một hoặc nhiều hạch bạch huyết. Bệnh này được đặt theo tên của một bác sĩ người Anh Thomas Hodgkin (1798-1866), người đã mô tả nó lần đầu tiên vào năm 1832.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ NHẬN BIẾT U LYMPHO HODGKIN?

Bệnh Hodgkin là một trong những bệnh ung thư máu đặc trưng bởi sự tăng sinh tế bào ác tính xảy ra trong một hoặc nhiều hạch bạch huyết. Bệnh này được đặt theo tên của một bác sĩ người Anh Thomas Hodgkin (1798-1866), người đã mô tả nó lần đầu tiên vào năm 1832.

1. Giải phẫu bệnh

Các vị trí hạch bị bệnh thường thấy trên lâm sàng là: Hạch cổ, nách, bẹn, trung thất, mạc treo ruột và sau phúc mạc. Những vị trí khác ngoài hạch có tổn thương liên quan đến bệnh là: Gan, lách, tủy xương.
Về mô bệnh học, yếu tố duy nhất để chẩn đoán xác định bệnh, phân biệt với u Lympho ác tính không Hodgkin là sự xuất hiện của những tế bào lưới có nhiều nhân gọi là tế bào Reed – Sternberg. Đây là những tế bào có kích thước lớn (30 – 100 µm), bào tương phong phú và ưa sắc (dễ bắt màu thuốc nhuộm), nhân tế bào nhiều múi và có các chồi, ưa Base. Tuy nhiên, tính đặc hiệu của các tế bào này cũng chỉ mang tính chất tương đối vì thực tế vẫn có thể thấy nó trong một số u tế bào Lympho T.
Những type mô bệnh học của bệnh Hodgkin bao gồm:
- Type 1 (2 – 10%): Chủ yếu là Lympho bào, ít tế bào Sternberg. Tiên lượng tốt nhất.
- Type 2 (40 -80%): Mô xơ cứng bao quanh u dạng cục. Tiên lượng rất tốt.
- Type 3 (30 – 40%): Có các tế bào Sternberg và thâm nhiễm nhiều tế bào đa hình. Tiên lượng tốt.
- Type 4 (2 -15%): Rất ít hoặc mất Lympho bào, Lympho bào bị xơ hóa, nhiều tế bào Sternberg. Tiên lượng dè dặt.
Việc điều trị u Lympho Hodgkin và u Lympho không Hogdkin là khác nhau, do đó việc phân biệt 2 bệnh này là rất quan trọng. Chẩn đoán mô học đã trở thành rất đặc hiệu, là nhờ có những kỹ thuật miễn dịch – hóa – mô và sử dụng kháng thể đơn dòng được sản xuất từ những tế bào Sternberg.

2. Triệu chứng

a. Triệu chứng toàn thân
Bệnh nhân mắc bệnh Hodgkin cũng có các triệu chứng của bệnh ung thư máu như: sốt, gầy sút, ra mồ hôi trộm, suy nhược. Sốt là triệu chứng xảy ra thường xuyên, và xảy ra trước những triệu chứng khác. Sốt có thể theo hình sóng, gián cách hoặc hình cao nguyên. Kiểu sốt Pel – Ebstein (Các thời kỳ sốt xen kẽ với một vài ngày hoặc một vài tuần không sốt). 
b. Sưng hạch bạch huyết nông
- Vị trí hạch sưng: Trong 60% các trường hợp, khởi phát bởi sưng hạch bạch huyết vùng cổ một bên hoặc cả hai bên không đối xứng. Vị trí sưng hạch khởi đầu ở nách khoảng 13%, ở bẹn khoảng 9%. Sau đó là những hạch nông ở vị trí khác cũng bị bệnh.
- Tính chất hạch bị sưng: Kích thước các hạch bị sưng không đều nhau, khá rắn, nhẵn phẳng, sờ nắn không đau. Đôi khi có viêm quanh hạch nhẹ làm cho các hạch dính với nhau, nhưng cả khối hạch vẫn di động đối với những lớp sâu hơn và cũng không dính vào lớp da nông hơn.
c. Sưng hạch bạch huyết sâu
- Hạch trung thất: Gặp trong 8% các trường hợp, bệnh khởi phát bởi sưng hạch trung thất, thường không biểu hiện triệu chứng, nhưng cũng có thể có rối loạn hô hấp. Chụp chiếu Xquang lồng ngực có thể thấy khối u bờ rõ nét, là khối duy nhất hoặc hợp bởi nhiều khối tròn, không di động theo nhịp thở. 
- Hạch sau phúc mạc: Sưng hạch thường tiềm tàng, đôi khi biểu hiện bằng những rối loạn tiêu hóa. Thường sưng hạch bạch huyết sau phúc mạc chỉ được phát hiện khi chụp hệ bạch huyết ổ bụng hoặc chụp cắt lớp vi tính (CT – scanner), đôi khi phải mở ổ bụng thăm dò mới phát hiện được.
d. Lách to
Khám bụng có thể sờ thấy lách to, triệu chứng này có thể kèm theo cường lách và thiếu máu huyết tán.
e. Biểu hiện ở da
Biểu hiện ở da là những triệu chứng ngứa dau dẳng, đôi khi kèm theo nổi ban. U hạt ở da rất hiếm thấy.
f. Các biểu hiện khác
- Xương: Đau, gãy xương bệnh lý, đặc biệt ở xương cột sống dễ bị gãy, vỡ.
- Hệ hô hấp: Viêm màng phổi thanh dịch – tơ huyết.
- Gan: Gan to, vàng da tắc mật.
- Hệ thần kinh: Chèn ép tủy sống do thâm nhiễm mô hạt ngoài màng cứng hoặc do tổn thương bệnh lan tới cột sống.
g. Tiến triển
Bệnh diễn biến thành từng đợt, với những cơn kịch phát và những đợt thuyên giảm. Nếu không điều trị đúng phương pháp, bệnh có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm. Do hệ miễn dịch ngày càng suy giảm, nên bệnh nhân dễ bị nhiễm khuẩn, nhiễm virus, nấm. Có thể dẫn đến suy tủy xương. Những biến chứng khác do các liệu pháp hóa chất, tia xạ.

3. Xét nghiệm cận lâm sàng

Chẩn đoán xác định chỉ có thể nhờ vào xét nghiệm mô học những hạch bị bệnh tìm tế bào Sternberg. 
- Huyết đồ: Số lượng Lympho bào trong máu có thể giảm (giảm Lympho bào tuyệt đối) nhất là những thể mất tế bào Lympho. Đôi khi người ta thấy có tăng bạch cầu hạt. Thường có thiếu máu nhược sắc, giảm Siderin huyết bởi hiện tượng đình lưu sắt.
- Tốc độ máu lắng: Tăng.
- Chọc dò hạch bạch huyết: Hút dịch chọc dò hạch bạch huyết, sau đó làm phiến đồ với dịch hút được, trên phiến đồ có thể thấy tế bào Sternberg.
- Sinh thiết hạch bạch huyết: Chủ yếu để chẩn đoán các type mô bệnh học thông qua phân tích cấu trúc mô học của hạch (hình ảnh xơ hóa, u hạt). Nếu không có hạch bạch huyết nào ở nông bị sưng thì có thể thực hiện ngay biện pháp lấy bệnh phẩm khác như: Chọc dò lách, sinh thiết gan, sinh thiết xương, mở thăm dò ổ bụng hoặc lồng ngực.
- Sinh thiết tủy xương: Trong trường hợp xét nghiệm máu thấy không bình thường, thì sinh thiết xương có thể thấy tủy xương có thể thấy tổn thương thâm nhiễm vào tủy xương.
- Các dấu ấn miễn dịch: Sử dụng những kháng thể đơn dòng chuẩn bị từ những tế bào Sternberg, có ích trong chẩn đoán phân biệt với u Lympho không Hodgkin.
- Test chức năng gan: Khi có tổn thương gan thì chức năng gan thay đổi.
- Globulin alpha 2 và Gammaglobulin trong huyết tương tăng.
- Xét nghiệm nước tiểu, có thể không bình thường khi bệnh Hodgkin lan đến thận.
- Chụp Xquang, cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ, chụp hệ bạch huyết ổ bụng có thể xác định được vị trí, số lượng, kích thước các hạch bạch huyết bị sưng.

4. Giai đoạn

- Giai đoạn I: Bệnh mới xuất hiện ở một nhóm hạch bạch huyết duy nhất hoặc 2 nhóm hạch ở gần nhau.
- Giai đoạn II: Bệnh tác động đến 2 hay nhiều nhóm hạch bạch huyết không gần nhau, nhưng cùng ở một phía với cơ hoành ( phía trên hoặc phía dưới).
- Giai đoạn III: Bệnh tác động tới nhiều nhóm hạch bạch huyết cả ở trên và dưới cơ hoành. Nhưng bệnh chỉ giới hạn trong mô Lympho (bao gồm hạch bạch huyết và lách).
- Giai đoạn IV: Bệnh tác động đến nhiều hạch bạch huyết, gan, lách, tủy xương, da…
Đối với từng giai đoạn người ta còn phân ra A và B, phụ thuộc vào các triệu chứng kèm theo như sốt, sút cân.
Bác sĩ: Nguyễn Thùy Ngân (phòng khám Thọ Xuân Đường)
(Bấm vào đây để nhận mã)