TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Đông y chữa Ung thư Tuyến Tiền liệt

11/11/2013 9:09:55 AM - Lượt xem: 1994
Phương pháp điều trị Ung thư Tuyến Tiền liệt tại Thọ Xuân Đường theo Đông y

ĐIỀU TRỊ

Mặc dù các triệu chứng lâm sàng của UTTTL xuất hiện chậm, những tiến bộ trong phát hiện về chẩn đoán (PSA, siêu âm và sinh thiết) cho phép chẩn đoán ung thư trong giai đoạn khu trú để điều trị có kết quả. Hiện nay chưa có biện pháp hữu hiệu nào để điều trị UTTTL khi đã có di căn.
1.Giai đoạn ung thư khu trú
Các phương pháp:
1)Cắt bỏ toàn bộ TTL cùng với túi tinh và bóng tinh. Young (1964) đã đề xướng phương pháp này. Năm 1982, Walsh và Donker đã cải tiến phương pháp này bằng cách mổ sau xương mu, cầm máu kỹ tĩnh mạch sâu lưng dương vật và tránh làm tổn thương các cuống thần kinh mạch máu dẫn đến vật hang. Trước khi tiến hành phẫu thuật cắt bỏ TTL, cần nạo vét các hạch chậu và xét nghiệm tổ chức học tức thì. Tuy nhiên, đây là một phẫu thuật triệt để, nhưng phức tạp, tỷ lệ tử vong là 1%. Tỷ lệ đái rỉ sau mổ là 5%, tỷ lệ bất lực là 40-50%. Phẫu thuật cắt bỏ TTL cũng có thể được tiến hành qua đường tầng sinh môn. Nhìn chung phẫu thuật này chỉ dành cho những bệnh nhân dưới 60-65 tuổi.
2)Điều trị quang tuyến có khả năng điều trị triệt để, tuy thời gian sống khỏi bệnh sau 3 năm và 10 năm thấp hơn điều trị cắt bỏ bằng phẫu thuật. Điều trị quang tuyến từ bên ngoài với tổng liều diệt u là 6000-7000 rads, với liều 200 rads mỗi ngày, trong 5-6 tuần. Đây là phương pháp điều trị quang tuyến thông dụng nhất. Các biến chứng bao gồm viêm bàng quang, viêm trực tràng, phù chi dưới, ỉa chảy, bất lực.
3)Điều trị quang tuyến khác là cắm kim 1251 phóng xạ vào ngay TTL. Nhờ vậy, các tác dụng phụ được giảm bớt. Trong một số trường hợp, kết hợp 2 phương pháp trên: cắm vùng phóng xạ 198 AU với liều 3000-3500 rads kết hợp với điều trị quang tuyến từ bên ngoài (6000-7000 rads).
Trong mọi trường hợp, kiểm tra hiệu quả điều trị bằng định lượng PSA huyết thanh. Trong trường hợp có ung thư xâm lấn ở rìa TTL, nên kết hợp điều trị với quang tuyến hay điều trị bằng hormon.
Chỉ định:
a)Cắt bỏ triệt để TTL được sử dụng cho các bệnh nhân tương đối còn trẻ, khỏe mạnh, kỳ vọng sống trên 10 năm, lúc ung thư ở các giai đoạn T1 và T2.
b)Điều trị quang tuyến được áp dụng cho các bệnh nhân cao tuổi hơn, lúc 
ung thư ở giai đoạn T2 và T3.
2.Giai đoạn 
ung thư đã di căn
Lúc ung thư đã di căn, điều trị chỉ là tạm thời. Điều trị bằng hormon dựa trên các công trình của Huggins C.B (1941). Chuyển hóa của các tế bào UTTTL phụ thuộc vào androgen, sau khi được biến thành dihydrotestoteron.
Tinh hoàn sản xuất 90% androgen, dưới dạng testosteron. Phần androgen còn lại xuất phát từ vỏ thượng thận. Hormon LH (Luteinizing hormon), dưới sự điều khiển của LHRH (LH releasing hormon), chỉ huy sự sản xuất testosteron của tinh hoàn.
Để tránh tác động của androgen đối với các tế bào UTTTL, có thể cắt bỏ tinh hoàn bằng phẫu thuật, cắt bỏ tinh hoàn bằng thuốc, với estrogen steroid, ức chế các thụ thể của androgen với các lợi kháng androgen.
Các phương pháp và thuốc được sử dụng
a)Cắt bỏ tinh hoàn hai bên cũng có thể thực hiện bằng cách cắt bỏ mô của tinh hoàn dưới bao.
b) Các estrogen được sử dụng dưới dạng diethylstilboestrol, một loại estrogen tổng hợp, có tác dụng ức chế sản xuất LH của tuyến yên, do đó hạn chế sự tiết testosteron. Estrogen cũng ức chế men 5 alpha-reductase ở ngay khu vực TTL. Người ta cũng dùng diphosphat dietylstilboestrol (ST52) và chlolrotrianisen (TACE). Liều dùng duy trì là 1-2mg/ngày. Nguy cơ của loại thuốc này là gây biến chứng về tim mạch.
c)Sau khi Sally phát hiện cấu trúc của LHRH, người ta tìm ra được những chất tương tự LHRH, nhưng mạnh hơn rất nhiêu lần. Nếu được sử dụng kéo dài. LHRH sẽ gây ức chế LH, sau một đợt kích thích LH. Vì vậy nên dùng các chất kháng androgen 15 ngày trước khi dùng các loại thuốc này. Các loại thuốc thường dùng là: buserelin, leuprolid, zoladex, dưới dạng tiêm hay viên nhỏ đặt dưới da.
d)Các loại kháng androgen bao gồm các thuốc ức chế tổng hợp androgen và các thuốc ức chế tác dụng của androgen.
+Các thuốc ức chế tổng hợp androgen, bao gồm aminoglute thimide, ketoconazole, và spironnolactone. Bằng cách tác động trên các men phụ thuộc cytochrome P450, ketoconazole ức chế tổng hợp androgen của tinh hoàn và của thượng thận. Tác dụng nhanh và mạnh nhưng lại gây nhiều tác dụng phụ như nôn và độc với gan.
+Các thuốc ức chế tác dụng của androgen bao gồm loại kháng androgen steroid (cyproteron acetat) và các loại kháng androgen không steroid (nilutamid và flutamid). Bằng cách tranh giành các thụ thể của dihydrotestosteron, các thuốc này ít gây tác dụng phụ,
Chỉ định
-Lúc 
ung thư ở giai đoạn T3, không sử dụng phẫu thuật, mà điều trị bằng hormon hay quang tuyến.
-Khi ung thư ở giai đoạn T4, cắt tinh hoàn hai bên kết hợp với các loại kháng androgen (flutamid) là biện pháp thông dụng nhất.
3.Giai đoạn thoát ly của UTTTL
Lúc này không còn có sự đáp ứng với điều trị hormon nữa. Nên sử dụng các loại estrogen liều cao, hoặc loại kháng androgen mạnh như ketoconazol. Biện pháp cuối cùng là sử dụng các hóa chất như cyclophosphamid, 5 fluorouracil (5FU), estramustin phosphat, và thuốc mới nhất được sử dụng suramin.
4.Điều trị các biến chứng do 
ung thư gây nên
Bí đái-vô niệu
Cắt nội soi u TTL để bệnh nhân đi tiểu theo đường tự nhiên. Khi tắc niệu quản, dẫn lưu thận qua da hay đặt ống thông chữ J lên niệu quản.
Chống đau xương do di căn
Sử dụng các thuốc chống đau, hoặc điều trị quang tuyến (2000-3000 rads). Gần đây strontium 80 được đem sử dụng có hiệu quả

KẾT LUẬN

UTTTL, đặc biệt thể tiềm tàng, khá phổ biến đã có xu hướng tăng cùng với tuổi thọ. Việc điều trị chỉ có hiệu quả lúc ung thưcòn khu trú ở TTL.
Các phương tiện thăm khám và xét nghiệm, đặc biệt định lượng PSA huyết thanh, cho phép chẩn đoán sớm UTTTL. Chiến thuật điều trị phải được cân nhắc thận trọng vì các phương tiện chẩn đoán và điều trị chưa thật hoàn hảo, trong khi tiến triển của UTTTL thường chậm và diễn biến khác nhau đối với từng bệnh nhân

VII.ĐIỀU TRỊ UTTTL BẰNG ĐÔNG Y

1)P: Sâm kỳ dung tiên thang (Phương Bá Anh, Học viện Trung Y Thượng Hải, Trung Quốc, điều tri 1 ca UTTTL di căn vào hạch lymphô hố chậu trái, khỏi trước mắt).
D: sinh Hoàng kỳ, Xuyên sơn giáp, Thổ phục linh, Bạch hoa xà thiệt thảo đều 15g, Đảng sâm, Tiên linh tỳ, Kỷ tử, Hà thủ ô chế, Ngưu tất, Thất diệp nhất chi hoa, Bạch thược đều 12g, Nhục thung dung, Ba kích, Đại hoàng chế, Tri mẫu, trích Cam thảo đều 6g, Hoàng bá sao 10g.
GG:
-Đái ra máu, thêm: Tiểu kế, Hạn liên thảo, Sinh địa, A giao.
-Tiểu khó, thêm: Trầm hương, Uất kim, Ô dược.
-Tiểu vàng đục, thêm: Xa tiền tử, Biển súc, Cù mạch, Kim tiền thảo, Hoạt thạch, Tỳ giải.

2)Phác đồ điều trị 1 của Đức Thọ Đường và Thọ Xuân Đường

2.1.Viên nang Tinh Nghệ Vàng 500mg. Ngày 4 lần, mỗi lần 2 viên. 2.2.Viên nang Kháng Nham 600mg. Ngày 4 lần, mỗi lần 2 viên. 2.3.Viên nang Kháng Nham 2 500mg. Ngày 4 lần, mỗi lần 2 viên. 2.4.Viên nang KTTL 500mg. Ngày 4 lần, mỗi lần 3 viên.

3)Phác đồ điều trị 2 của Đức Thọ Đường và Thọ Xuân Đường

3.1.Hoàn Tinh nghệ vàng 1g. Ngày 3 lần, mỗi lần 2 viên 3.2.Hoàn Kháng Nham 3 1g. Ngày 3 lần, mỗi lần 4 viên. 3.3.Hoàn KTTL 1g. Ngày 3 lần, mỗi lần 2 viên.

(Bấm vào đây để nhận mã)

Các bài viết khác