TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Cách chẩn đoán ung thư gan

3/9/2016 4:35:28 AM - Lượt xem: 1764
Chẩn đoán bệnh đóng vai trò rất quan trọng trong điều trị bệnh ung thư gan nói riêng và trong các bệnh khác nói chung. Vì thế để tránh nhầm với một số bệnh khác cần dựa vào các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, và chẩn đoán phân biệt.

CÁCH CHẨN ĐOÁN UNG THƯ GAN

Chẩn đoán bệnh đóng vai trò rất quan trọng trong điều trị bệnh ung thư gan nói riêng và trong các bệnh khác nói chung. Vì thế để tránh nhầm với một số bệnh khác cần dựa vào các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, và chẩn đoán phân biệt. 

I. Chẩn đoán xác định

Chẩn đoán xác định phải dựa vào triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng.

1. Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng cơ năng: 
- Đau vùng gan: Đau ở vùng hạ sườn phải, hay gặp ở giai đoạn giữa và cuối, đau tức hoặc như dao đâm. Trên ½ số bệnh nhân có đau vùng gan, đau xuyên lên vai phải và sau lưng.
- Bụng trên đầy tức xuất hiện sớm thường kèm theo các triệu chứng rối loạn tiêu hóa nhưng ít khi được chú ý, đến lúc muộn thì đã có dịch trong ổ bụng và cổ chướng.
- Chán ăn, ăn không ngon là những triệu chứng biểu hiện sớm nhất của bệnh nhưng ít được chú ý đến sau xuất hiện buồn nôn, nôn, tiêu chảy.
Triệu chứng thực thể:
- Gan to, cứng, di động theo nhịp thở, bề mặt ghồ ghề, ấn đau. Trên 90%  số bệnh nhân có biểu hiện gan to.
- Kèm theo lách to là kết quả của xơ gan.
- Cổ trướng là biểu hiện của giai đoạn cuối và dịch ổ bụng thường màu vàng úa hoặc đỏ (có máu).
- Vàng da do tắc mật hoặc sự hủy hoại của tế bào gan nặng dần lên, sao mạch thường xuất hiện vào thời kỳ cuối của xơ gan.
Triệu chứng toàn thân: Người gầy, mệt mỏi, sốt, toàn thân suy kiệt, xuất huyết, giảm các nhu cầu sinh lý.

2. Cận lâm sàng

Các cận lâm sàng bao gồm:
a. Xét nghiệm 
Công thức máu: Hồng cầu giảm, nồng độ huyết sắc tố giảm, tốc độ lắng máu( Vss) tăng, tỷ lệ Prothrombin giảm.
Hóa sinh: Albumin giảm, tỷ lệ Prothrombin giảm, Glucose máu thấp, Bilirubin tăng, phosphatase kiềm tăng, GGT tăng, LDH tăng...
Alpha Foeto Protein (AFP):
Là xét nghiệm dấu ấn ung thư gan nguyên phát. Bình thường nồng độ AFP < 25 UI/ml. Trong bệnh ung thư gan nồng độ AFP tăng lên. Theo thống kê nồng độ AFP > 25 UI/ml có khoảng 80%  bệnh nhân ung thư gan, nồng độ AFP > 100 UI/ml có khoảng 60% bệnh nhân và khoảng 50% bệnh nhân ung thư gan có nồng độ AFP > 300 UI/ml. 
Xét nghiệm nồng độ AFP là xét nghiệm có giá trị chẩn đoán ung thư gan, nếu nồng độ AFP > 300 UI/ml và siêu âm gan có khối giảm âm thì có thể khẳng định là bệnh nhân bị ung thư gan.
Xét nghiệm nồng độ AFP đặc biệt rất có giá trị khi khi dấu ấn này kết hợp với 2 dấu ấn khác là AFP-L3 (Alpha L-Fucosidase) và PIVKA-II (Descarboxy Prothrombin).
DCP (Descarboxy Prothrombin hay PIVKA-II):
Khoảng 70% bệnh nhân ung thư gan nguyên phát có kết quả dương tính và khoảng 50% ở những bệnh nhân ung thư gan có DCP bình thường.
Alpha L-Fucosidase: 
Trong bệnh ung thư gan nguyên phát enzyme này tăng cao với độ đặc hiệu 90% và độ nhạy khoảng 75%, ngoài ra cũng tăng trong u gan lành tính.
b. Thăm dò hình ảnh
X quang: Bóng gan to, có thể thấy hình ảnh di căn phổi, vòm hoành phải lên cao, di động cơ hoành kém.
Siêu âm: 
+ Hình ảnh khối u: Một hoặc nhiều khối u kích thước từ 1cm, cấu trúc không đồng nhất, đặc hoặc hỗn hợp âm, ranh giới không rõ. Siêu âm Doppler có tăng sinh mạch máu trong khối u.
+ Tính chất gan và tổ chức xung quanh: Gan đậm độ âm không đều, tĩnh mạch cửa giãn, lách to, có thể thấy dấu hiệu chèn ép mạch máu và đường mật, dấu hiệu di căn tĩnh mạch cửa (huyết khối) hay các hạch, tạng xung quanh.
Chụp cắt lớp CT scanner: 
Một hoặc nhiều khối giảm mật độ, bắt thuốc không đều, giúp hướng dẫn chọc hút, sinh thiết.
Chụp động mạch gan chọn lọc :
Hình ảnh cho thấy động mạch trong gan bị khối u đẩy rộng ra và dấu hiệu đặc hiệu của bệnh ung thư gan là hình ảnh “hồ máu” do các động tĩnh mạch giãn rộng để làm chậm lưu lượng tuần hoàn qua vùng ung thư.
Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI): Là phương pháp có độ chẩn đoán chính xác cao (đạt tỷ lệ chẩn đoán chính xác tới 97,5% với các u > 2 cm) và đặc biệt là giúp phát hiện tổn thương xâm lấn tĩnh mạch trên gan.
c. Sinh thiết: 
Thực hiện sinh thiết dưới sự hướng dẫn của siêu âm, soi ổ bụng hoặc CT scanner.
Sinh thiết chính xác hơn nhưng dễ chảy máu.
Chọc hút kim nhỏ: Ít biến chứng hơn, nhưng độ chính xác và độ nhạy thấp hơn sinh thiết.

II. Chẩn đoán phân biệt

Các triệu chứng của bệnh ung thư gan có thể xuất hiện trong một số bệnh. Do đó cần phân biệt bệnh ung thư gan với các bệnh dưới đây:

1. Abces gan đường mật: 

+ Là một hội chứng nhiễm trùng rõ, sốt cao, vàng da.
+ Bệnh nhân có tiền sử sỏi mật hoặc giun chui ống mật. 
+ Gan có thể to nhưng không cứng chắc như ung thư gan.
+ Siêu âm thường có nhiều ổ abcess.
+ Chọc hút: Dịch mủ màu sữa, có ánh vàng lẫn mật, đặc biệt mùi thối. Nuôi cấy có vi khuẩn mọc, thường là vi khuẩn Gram (-), yếm khí.
+ Giải phẫu bệnh: Gồm các tế bào viêm
+ Điều trị bằng kháng sinh, tiến triển tốt

2. Nang gan:

+ Là bệnh bẩm sinh có biểu hiện triệu chứng khi nang lớn hoặc có biến chứng (vỡ, nhiễm trựng, chảy máu) và thường phối hợp với bệnh thận đa nang. 
+ Gan rất to, cứng lổn nhổn nhưng không ảnh hưởng đến thể trạng toàn thân. 
+ Siêu âm, chụp cắt lớp CT scanner có thể thấy nhiều nang, bờ rõ, bên trong là dịch đồng nhất, không ngấm thuốc cản quang.
3. Xơ gan:
+ Có thể sờ thấy gan to ở vùng thượng vị nhưng chỉ 2 –3 cm. 
+ Siêu âm có thể nhầm lẫn với u gan. Siêu âm Doppler không có tăng sinh mạch. 
+ Nồng độ AFP bình thường. 
+ Chọc hút tế bào hoặc sinh thiết đúng vị trí là tổ chức xơ, không phải ung thư.

4. Viêm gan mạn: 

Trong viêm gan mạn gan có thể to nhưng không bao giờ to quá. 
Siêu âm, CT scanner không có khối trong gan.

5. Gan nhiễm mỡ: 

Kèm theo bệnh rối loạn chuyển hóa lipid, xơ vữa mạch máu.
Siêu âm gan có hình ảnh gan nhiễm mỡ.

Bác sĩ: Võ Duệ (Thọ Xuân Đường)
(Bấm vào đây để nhận mã)