TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Bệnh bạch cầu tủy mạn

12/12/2015 9:04:08 PM - Lượt xem: 6082
Bệnh bạch cầu tủy mạn là một trong những loại ung thư máu. Bệnh này có xu hướng diễn biến chậm hơn so với bệnh bạch cầu cấp. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường ở người lớn tuổi và ít gặp ở trẻ em.

BỆNH BẠCH CẦU TỦY MẠN

Bệnh bạch cầu tủy mạn là một trong những loại ung thư máu. Bệnh này có xu hướng diễn biến chậm hơn so với bệnh bạch cầu cấp. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường ở người lớn tuổi và ít gặp ở trẻ em.

Khi mắc bệnh, dòng bạch cầu hạt quá sản đã biệt hóa không kiểm soát, và chất lượng của chúng không bình thường. Biểu hiện bằng số lượng bạch cầu hạt (từ non, trung gian đến trưởng thành) tăng cao ở máu ngoại  và trong xương. Có khoảng > 90% bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu tủy mạn có nhiễm sắc thể Philadelphia (chuyển đoạn từ 9 – 22). 

1. Triệu chứng lâm sàng

Giai đoạn mãn tính: Có khoảng 40% bệnh nhân mắc bệnh mà không có biểu hiện lâm sàng rõ rệt.
- Cũng như các bệnh ung thư khác, bệnh nhân mắc bạch cầu tủy mạn thường thấy mệt mỏi, gầy, sút cân.
- Lách to: Triệu chứng này gặp trên tất cả các trường hợp. Thường lách to đến quá rốn (độ III đến độ IV), mật độ chắc, mặt nhẵn, ấn không đau, có thể vị viêm hoặc nhồi máu lách có thể gây ra đau vừa đến đau dữ dội.
- Gan to: Gan to, mật độ tương đối chắc, không đau, có thể gặp ở khoảng 30 – 40% trường hợp.
- Thiếu máu (nhẹ hoặc vừa): Da xanh, niêm mạc kém hồng, có thể thấy tiếng thổi tâm thu ở mỏm tim.
- Sốt không rõ nguyên nhân, giai đoạn này có thể không có sốt.
- Ra mồ hôi trộm và đau mỏi xương kín đáo, không rõ ràng.
Giai đoạn tiến triển
- Lách to lên so với gian đoạn mãn và có thể kèm theo gan to, hạch to.
- Biểu hiện sốt, đau nhức xương, ra mồ hôi trộm trở nên rõ rệt và rầm rộ hơn.
- Bệnh nhân kém đáp ứng với điều trị như ở giai đoạn mãn.

2. Xét nghiệm cận lâm sàng

Giai đoạn mãn tính:
- Huyết đồ:
+ Số lượng bạch cầu thường trên 100G/L, có khi lên tới 400 –  800G/L.
+ Công thức có đủ các giai đoạn phát triển từ bạch cầu non (nguyên bào, tủy bào) đến bạch cầu trung gian (tủy bào, tiền tủy bào) và bạch cầu trưởng thành. Tỷ lệ nguyên tủy bào rất ít (chỉ khoảng từ 2 – 5 %). Không có khoảng trống bạch cầu, tỷ lệ Lympho bào ít.
+ Số  lượng hồng cầu, huyết sắc tố giảm nhẹ, hình thái hồng cầu bình thường, hồng cầu lưới có thể tăng nhẹ.
+ Số lượng tiểu cầu bình thường hoặc có thể tăng cao thời kỳ đầu.
- Tủy đồ: Tăng sinh mạnh dòng bạch cầu hạt. Không có khoảng trống bạch cầu, hồng cầu có thể bình thường hoặc có thể tăng nhẹ, mẫu tiểu cầu tăng sinh rõ rệt.
- Nhiễm sắc thể Philadelphia chuyển đoạn cánh dài giữa nhiễm sắc thể 9 và 22. 
- Men Photphattaza kiềm bạch cầu giảm.
- Sinh hóa máu: Vitamin B12 huyết thanh gấp 2 – 10 lần, Acid Uric huyết thanh tăng cao.
Giai đoạn cấp tính
- Số lượng bạch cầu và số lượng tiểu cầu tăng cao thất thường, bạch cầu non ở máu ngoại vi > 15%.
- Tăng số lượng bạch cầu ưa acid >20%.
- Tỷ lệ tế bào non trong tủy xương tăng lên.
- Ngoài nhiễm sắc thể Philadelphia, còn có thêm các bất thường khác về nhiễm sắc thể.

3. Chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt

Dựa vào các dấu hiệu lâm sàng, chú ý triệu chứng lách to, dựa vào huyết đồ và tủy đồ để xác định chính xác bệnh, giai đoạn bệnh, mức độ ác tính của loại ung thư máu này.
Cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khác như:
- Tăng số lượng bạch cầu do phản ứng viêm: Số lượng bạch cầu không cao quá > 50G/L. Ít khi xuất hiện các nguyên tủy bào, tiền tủy bào trong máu ngoại vi, men Photphattaza kiềm bạch cầu tăng rõ, không có nhiễm sắc thể Philadelphia, lách không to hoặc có thể to ít, triệu chứng bệnh viêm rõ ràng.
- Lách to sinh tủy: Thường kèm gan to, số lương bạch cầu tăng không quá 50 - 60G/L, thường xuất hiện hồng cầu non trong máu ngoại vi. Tủy đồ thấy số lượng tế bào tủy giảm, không có nhiễm sắc thể Philadelphia, lượng Vitamin B12 huyết thanh bình thường.

4. Tiên lượng

Tiên lượng bệnh phụ thuộc vào mức độ ác tính của bệnh, giai đoạn bệnh, thể trạng bệnh nhân và đáp ứng điều trị. 
Bệnh bạch cầu tủy mạn có tiên lượng tốt hơn so với các bệnh ung thư máu khác. Nếu điều trị sớm trong giai đoạn đầu hoặc điều trị tích cực qua được giai đoạn cấp bệnh có thể khỏi được.

5. Điều trị

- Hóa trị: Sử dụng các thuốc sau Busulfan, Hydroxyure, Myelobromol, Cyclophosphamide, Interferon alpha. Tùy vào mức độ và giai đoạn bệnh mà trên mỗi bệnh nhân sẽ có phác đồ trị liệu cụ thể.
- Các liệu pháp sinh học, liệu pháp ghép tế bào gốc vẫn chưa được sử dụng điều trị rộng rãi vì còn nhiều hạn chế.
- Điều trị triệu chứng: Cắt lách khi lách quá to, truyền máu, gạt bạch cầu…
- Hiện nay nhiều bệnh nhân có xu hướng lựa chọn y học cổ truyền để điều trị bệnh bằng liệu pháp thiên nhiên, dùng Nam dược, thay đổi lối sống và chế độ ăn hợp lý đã có những kết quả khả quan.
Bác sĩ: Nguyễn Thùy Ngân

 

(Bấm vào đây để nhận mã)